Giảm giá bán dầu, giữ giá xăng từ 1/4 năm 2014

Bộ Tài chính yêu cầu giảm giá bán lẻ 3 mặt hàng: dầu hỏa, dầu điêzen và madút, không muộn hơn 0h đêm 31/3.

Bản thông cáo phát đi lúc hơn 23h đêm ngày 31/3 của Bộ Tài chính cho biết, giá bán xăng Ron 92 hiện thấp hơn giá cơ sở 230 đồng/lít (giá hiện hành 24.690 đồng/lít, giá cơ sở 24.920 đồng/lít).

Trái ngược với xăng, giá bán dầu điêzen cao hơn giá cơ sở 239 đồng/lít; giá bán dầu hỏa cao hơn giá cơ sở 145 đồng/lít, giá bán dầu mazut cao hơn 121 đồng/kg.

Trước diễn biến trên, Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối giữ ổn định mức trích Quỹ Bình ổn giá đối với các mặt hàng xăng, dầu như hiện hành; Giảm sử dụng Quỹ Bình ổn giá đối với mặt hàng xăng từ 300 đồng/lít xuống còn 200 đồng/lít; Các mặt hàng dầu điêzen, dầu hỏa và madút giữ nguyên như hiện hành.

Sau khi thực hiện các biện pháp điều hành như trên, Bộ Tài chính yêu cầu giảm giá bán dầu điêzen và madút. Theo Bộ Tài chính, hiện nay, giá cơ sở của dầu điêzen và madút đã được tính đủ các yếu tố trong giá theo quy định.

Do giá thế giới bình quân có xu hướng giảm làm giá cơ sở giảm so với giá bán lẻ hiện hành, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối giảm giá bán lẻ tương ứng; nhưng giá bán sau khi điều chỉnh không được cao hơn mức giá cơ sở đã công bố (lần lượt là 22.601 đồng/lít và 18.469 đồng/kg).

(Nếu tham chiếu theo giá hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, thì mức giảm đối với dầu điêzen tối thiểu khoảng 239 đồng/lít; dầu madút tối thiểu khoảng 121 đồng/kg).

giam gia dau giu gia xang tu 1/4 nam 2014

Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp giữ giá đối với các mặt hàng xăng, giảm giá bán lẻ 3 mặt hàng: dầu hỏa, dầu điêzen và madút. Ảnh minh họa

Bộ Tài chính cũng yêu cầu giảm giá bán dầu hỏa. Cụ thể, sau một thời gian dài chưa tính hoặc chưa tính đủ lợi nhuận, cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối khôi phục lợi nhuận trong giá cơ sở mặt hàng dầu hỏa theo đúng quy định (150 đồng/lít lên 300 đồng/lít); phần chênh lệch còn lại giữa giá cơ sở và giá bán lẻ hiện hành yêu cầu giảm tương ứng nhưng giá bán sau khi điều chỉnh không được cao hơn mức giá cơ sở đã công bố (22.485 đồng/lít).

(Nếu tham chiếu theo giá hiện hành của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, thì mức giảm đối với dầu hỏa tối thiểu khoảng 145 đồng/lít).

Riêng mặt hàng xăng, Bộ Tài chính yêu cầu giữ ổn định giá bán như hiện hành. Bộ Tài chính cho các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu được khôi phục lại lợi nhuận định mức ở hai mặt hàng xăng và dầu hoả từ 150 đồng/lít lên 300 đồng/lít.

“Thời điểm điều chỉnh giảm giá bán dầu điêzen, dầu madút và dầu hỏa do doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối quy định nhưng không muộn hơn 24 giờ 00 ngày 31 tháng 3 năm 2014” Bộ Tài chính yêu cầu.

Lần điều chính giá xăng dầu gần đây nhất là ngày 19/3, giá xăng RON 92 đã lên mức 24.690 đồng/lít, tăng 180 đồng so với giá cũ. Giá bán lẻ dầu diesel tăng thêm 70 đồng/lít; giá dầu hỏa vẫn giữ nguyên; giá dầu mazut giảm 120 đồng/kg...

Theo Dương Tùng

Thua kiện, bà chủ Quốc Cường Gia Lai kháng cáo

(THIENDUONG.VN)-Không đồng ý với bản án phạt đã tuyên vào ngày 17/6, công ty cổ phần Quốc Cường Gia Lai đã nộp hồ sơ kháng cáo lên tòa án quận 3 để giải quyết.

Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM vừa nhận được văn bản của công ty cổ phầnQuốc Cường Gia Lai (QCG) do bà Nguyễn Thị Như Loan - Chủ tịch HĐQT ký, về vụ kiện chậm bàn giao nhà của dự án chung cư Quốc Cường 1 tại quận 7. Theo đó, đơn vị thực hiện dự án là công ty TNHH Đầu Tư và Phát Triển Nhà Quốc Cường (QCN) - công ty con của QCG đã phân tích hết những bất cập trong quá trình đầu tư, cố gắng để vay mượn xây dựng hoàn thiện giao nhà cho khách nhưng 75% khách hàng không góp vốn.

Theo Quốc Cường Gia Lai, đây là một sự nỗ lực quá lớn của QCN vì chi phí lãi vay và thanh toán vật tư trước để hoàn thành giao nhà cho khách đã khiến đơn vị này phải nhận khoản lỗ 20 tỷ đồng. 

Văn bản của QCG cũng nêu rõ, tổng giá trị hợp đồng mà nguyên đơn Nguyễn Thị Bích Ngọc được tòa xử là gần 1,3 tỷ đồng, trong đó lãi phạt chậm giao nhà là 258 triệu đồng, tương ứng trên 20%. Tuy nhiên, công ty này dẫn ra rằng luật quy định không phạt quá 8% trên tổng giá trị hợp đồng, trong khi tòa án lại áp dụng mức phạt lên tới hơn 20%.

Thêm vào đó, khi ký hợp đồng, người này đã mua lại của khách hàng khác, ngày giao nhà theo hợp đồng là 07/2009, trongkhi ngày ký hợp đồng lại là 1/3/2010. "Điều này cho thấy khách hàng mua sau thời hạn giao nhà nhưng cố tình ký hợp đồng và đi kiện để lấy tiền phạt của QCN... QCN cũng rất phân vân vì phiên tòa được xử ngày 10/6, nhưng sau 7 ngày (ngày 17/6), QCN mới được nghị án là cólỗi, phải chăng vì áp lực công luận và dư luận nên tòa mới nghị án như vậy", văn bản này nêu rõ.

"Công ty chúng tôi không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân Quận 3 đã tuyên ngày 17/06. Chúng tôi đang nộp hồ sơ kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân Quận 3 xem xét giải quyết", phía QCG cho hay. 

Trước đó, vào chiều 17/6 tại TAND Q.3 (TP.HCM) diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ kiện yêu cầu trả lãi phạt trong việc chậm giao căn hộ, giao căn hộ với nội thất không đúng thỏa thuận và trả lại phần thu sai thuế giá trị gia tăng. Tại phiên tòa, chị Ngọc yêu cầu công ty Quốc Cường trả phạt số tiền chậm giao căn hộ 22 tháng (từ tháng 7/2009 - 23/4/2011) với số tiền là 420 triệu đồng và số lãi chậm trả số tiền này từ 4/2011 đến nay 78 triệu đồng, tất cả là 498 triệu đồng, nhưng phía bị đơn không chấp nhận.

Hội đồng xét xử đánh giá ngay từ khi ký kết hợp đồng này đã sai phạm, 2 bên phát hiện nhưng không giải quyết từ sớm dẫn tới những hệ lụy phát sinh kéo dài. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên công ty Quốc Cường phải trả cho nguyên đơn 258 triệu đồng tiền chậm giao căn hộ. Còn yêu cầu trả lãi chậm thanh toán tòa không xem xét vì không có căn cứ. Ngoài ra, công ty Quốc Cường còn phải trả gần 13 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm.

HẠ MINH

Theo Infonet

Những khoản vốn nghìn tỷ không dễ hiểu tại công ty chứng khoán

Xem xét báo cáo tài chính của các CTCK, nhiều NĐT băn khoăn về nhiều quản với số tiền lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Đặt cọc

 

Báo cáo tài chính bán niên 2013 của CTCK Agriseco ghi nhận hai khoản tiền mà CTCK này đặt cọc cho khách hàng theo các thoả thuận mua chứng khoán với giá trị tổng cộng lên đến gần 1.542 tỷ đồng. Đây không phải là hình thức đặt cọc thông thường, vì tiền đặt cọc được hưởng lãi suất từ 11,5 - 28%/năm, đồng thời bên nhận đặt cọc còn phải đảm bảo bằng chứng khoán cho Agriseco kèm theo điều kiện Agriseco được quyền bán số chứng khoán này để thu hồi tiền cọc và lãi.

 

CTCK VPBS đặt cọc cho khách hàng số tiền gần 728,7 tỷ đồng tính đến cuối tháng 6 (số dư đầu năm là hơn 716,2 tỷ đồng) để mua chứng khoán. Tiền cọc này không được hưởng lãi như trường hợp của Agriseco, mà có một điều khoản phạt vi phạm hợp đồng: nếu khách hàng không mua chứng khoán trong thời gian thoả thuận sẽ phải hoàn trả tiền cọc cộng với mức phạt 10 - 15%/năm, hoặc 0,1% tổng giá trị hợp đồng.

 

Tương tự, CTCK Đại Dương (OCS) “đặt cọc” cho đối tác xấp xỉ 882 tỷ đồng để đối tác tìm mua chứng khoán cho OCS và “khi hợp đồng hết thời hạn mà đối tác không tìm được chứng khoán như thoả thuận, đối tác sẽ phải trả lại cho Công ty số tiền đặt cọc”. Điểm lạ ở đây là CTCK phải nhờ tổ chức khác tìm mua chứng khoán. CTCK này cũng nhận một khoản “đặt cọc” với số dư 319 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 6 (đầu năm là 344,5 tỷ đồng) từ một đối tác khác.

 

Theo tìm hiểu của ĐTCK, khi CTCK nhận đặt cọc thường có nghĩa là CTCK đi vay. Đối với những CTCK có ngân hàng “chống lưng”, nhiều trường hợp đặt cọc không phải là hình thức CTCK đi vay ngân hàng, mà là ngân hàng thông qua CTCK để cho khách hàng vay hoặc gửi vào ngân hàng khác khi lãi suất liên ngân hàng thấp hơn lãi suất huy động.

 

Chẳng hạn, CTCK MHB (MHBS) được Sở giao dịch Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long “đặt cọc” một khoản tiền có số dư tại thời điểm 30/6/2013 là 410 tỷ đồng. Tương tự, CTCK Navibank (NVS) được Ngân hàng TMCP Nam Việt đặt cọc 50 tỷ đồng. Còn CTCK Maritime Bank (MSBS) có một khoản “tiền đặt cọc bán cổ phiếu, môi giới trái phiếu” trị giá 181 tỷ đồng.

 

Thực tế, nhiều tổ chức phi tín dụng, trong đó có các CTCK, khi có nhu cầu cho vay hoặc đi vay, nhất là cho vay “nóng”, còn sử dụng các cam kết mua và bán lại chứng khoán (Repo). Báo cáo tài chính của một số CTCK như MBS, TVSI, vẫn còn các khoản phải thu từ các hợp đồng Repo chứng khoán.

 

Uỷ thác đầu tư
 

Tương tự “đặt cọc”, hình thức “uỷ thác đầu tư” (có các tên gọi khác như “thoả thuận đầu tư”, “hợp tác cung ứng dịch vụ và đầu tư tài chính”…) cũng có hai dạng: một là CTCK uỷ thác cho một bên nào đó, hai là một bên nào đó uỷ thác cho CTCK.

 

Gọi là uỷ thác đầu tư nhưng lạ ở chỗ, bên uỷ thác được nhận cố định một tỷ lệ phần trăm lãi trên số tiền uỷ thác, mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của bên uỷ thác. Việc này chẳng khác gì bên uỷ thác là bên cho vay và bên nhận uỷ thác là bên đi vay. Lãi trên số tiền “uỷ thác đầu tư” đôi khi được các bên gọi rất “chuyên môn” là “chi phí cơ hội” hay “phí sử dụng vốn”.

 

CTCK Quốc Gia (NSI) có một khoản phải thu 115 tỷ đồng từ CTCP Tập đoàn Việt Phương (VPG) tại thời điểm 30/6/2013. Khoản phải thu này phát sinh từ một hợp đồng gọi là “hợp đồng hợp tác cung ứng dịch vụ và đầu tư tài chính”. Theo đó, NSI giao vốn cho VPG để tìm các khách hàng có nhu cầu bán các loại chứng khoán và phân tích, lập danh mục đầu tư để xem xét đầu tư. Điểm lưu ý là VPG phải đảm bảo mức lợi nhuận tối thiểu cho NSI. NSI đảm bảo số tiền vốn tối thiểu là 115 tỷ đồng tại tài khoản của VPG nhằm đảm bảo thực hiện giao dịch. Trong thời gian ký quỹ, VPG cam kết trả cho NSI một khoản phí sử dụng vốn là 9%.

 

Bên cạnh đó, NSI có một khoản phải trả 50 tỷ đồng cho Ngân hàng TMCP Việt Á (VietA Bank) phát sinh từ một hợp đồng gọi là “hợp tác đầu tư”. Theo đó, NSI nhận tiền từ VietA Bank để tìm kiếm cơ hội đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Khi NSI chưa tìm được tài sản đầu tư theo đúng yêu cầu của VietA Bank thì NSI được toàn quyền sử dụng vốn đầu tư nhàn rỗi một cách hiệu quả nhất, nhưng phải đảm bảo cho VietA Bank mức lợi nhuận 17,5%/năm. Khoản phải thu và khoản phải trả nêu trên của NSI có liên quan với nhau, vì VPG là cổ đông lớn của VietA Bank.

 

Có trường hợp “uỷ thác đầu tư” không phải là cho vay hay đi vay, mà đơn giản là ngân hàng chuyển tiền cho CTCK có tỷ lệ sở hữu chi phối để gửi vào ngân hàng khác trong những thời điểm lãi suất huy động cao hơn lãi các ngân hàng cho nhau vay. Trường hợp này cũng không khác gì so với một trong những “biến tướng” của các hình thức đặt cọc nêu trên.

 

Thuyết minh khoản mục “tiền và các khoản tương đương tiền” trong báo cáo tài chính của CTCK Đại Việt (DVSC) có ghi số tiền 228,8 tỷ đồng tại thời điểm 30/6/2013 là tiền được “một nhà đầu tư là cổ đông lớn của Công ty uỷ thác cho Công ty sử dụng” và “Công ty đã gửi số tiền này vào tài khoản tiền kỳ hạn mở tại một ngân hàng TMCP” nhưng chưa chưa thu hồi được, mặc dù đã quá hạn từ tháng 11/2011. Lãi suất mà DVSC gửi là 14%/năm, còn lãi suất mà DVSC trả cho “cổ đông lớn” là 13,9%/năm. Báo cáo cũng cho biết, “cổ đông lớn” là một tổ chức tín dụng.

 

Theo Kim Yến

ĐTCK

 

Đã đến lúc hạ lãi suất cho vay xuống 10%

(Thienduong.vn) - Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm, trong 8 tháng còn lại, mỗi tháng tín dụng sẽ phải tăng đều ít nhất 1,25%. Muốn vậy, phải hạ lãi suất cho vay xuống 10% và xem xét dỡ trần lãi suất huy động.

Đã đến lúc hạ lãi suất cho vay xuống 10%
Trong khi lãi suất huy động xuống mạnh, thanh khoản dư thừa, lãi suất cho vay vẫn cao nên dòng vốn trở nên bế tắc.

Theo báo cáo phân tích kinh tế Việt Nam tháng 5/2013 của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG), tình trạng tín dụng tăng chậm và được dự báo khó đạt kế hoạch đề ra cho năm 2013 sẽ  gây những khó khăn nhất định cho kế hoạch vốn đầu tư của năm 2013. 

Cụ thể, tính đến 29/4/2013, tín dụng chỉ  tăng 2,11% so với cuối năm 2012 (trong đó, tín dụng bằng VND tăng 4,15%, ngoại tệ giảm 7,2%). Đây là mức tăng thấp so với mục tiêu 12% của cả năm 2013. 

Như vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm, trong 8 tháng còn lại, mỗi tháng tín dụng phải tăng đều ít nhất 1,25%. 

UBGSTCQG cho rằng, dựa trên thực tế diễn ra trong năm 2012, trong bối cảnh khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế, thị  trường bất động sản hoạt động cầm chừng và tổng cầu của nền kinh tế đang yếu, để đạt được mức tăng  trưởng tín dụng đều đặn trên 1% mỗi tháng là nhiệm vụ hết sức khó khăn.

Vì vậy, trong khuyến nghị chính sách tiền tệ đối với Chính phủ, UBGSTCQG lưu ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cho năm 2013 cần phải giữ để đảm bảo vốn đầu tư cho nền kinh tế. 

Theo đó, cần tiếp tục điều chỉnh hạ mặt bằng lãi suất cho vay tín dụng xuống khoảng 10% nhằm khuyến khích doanh nghiệp vay vốn đầu tư sản xuất. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu thời điểm thích hợp xóa bỏ qui định trần lãi suất huy động nhằm giúp thị trường tăng khả năng tự điều tiết.

Trần lãi suất không còn cần thiết

Trên thực tế, do huy động của hệ thống tăng khá và tín dụng tăng chậm nên thanh khoản của hệ thống ngân hàng hiện nay đã khá dồi dào và không nhiều biến động. 

Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng cho kỳ hạn qua đêm và 1 tuần nhiều thời điểm trong tháng 5 đã tiếp tục hạ xuống dưới mức dưới 2% so với mức phổ biến từ 3-4% trong tháng 4.

Tính đến  cuối tháng  4/2013, huy động vốn tăng 5,2% so với cuối năm 2012, cao hơn gấp 1,5 lần mức tăng của cùng kỳ năm 2012 và gấp hơn 5 lần mức tăng của cùng kỳ năm 2011. Trong khi đó tín dụng chỉ tăng 2,11%.

UBGSTCQG nhìn nhận, điểm tích cực của thị trường hiện nay là hệ thống ngân hàng đang phát đi những tín hiệu cho thấy các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể tự điều chỉnh lãi suất mà không cần đến sự can thiệp hành chính của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). 

Sau quyết định hạ lãi suất điều hành của NHNN được ban hành ngày 10/5/2013, tuy trần lãi suất huy động vẫn được giữ  không đổi nhưng trước đó một bộ phận các NHTM lớn như Vietcombank, BIDV, Vietinbak, Agribank  đã chủ động hạ lãi suất huy động VND các kỳ  hạn dưới 12 tháng xuống chỉ  còn  ở  mức 5-6%/năm. 

Tính đến ngày 21/05, đã có 15/39 NHTM đã giảm lãi suất ở các kỳ hạn. Điều này, theo UBGSTCQG, đang tạo tiền đề cho NHNN sớm có thể dỡ bỏ trần lãi suất trong thời gian tới.

Bích Diệp

 

HAG nợ 16.000 tỉ đồng: “Bầu” Đức nói không đáng lo

(Thiên Đường) - Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (Mã chứng khoán HAG) cũng phải gánh khoản nợ lên tới 16.000 tỉ.

HAG nợ 16.000 tỉ đồng: “Bầu” Đức nói không đáng lo!
"Bầu” Đức khẳng định: HAG không có rủi ro nợ vay ngân hàng. HAG có thể kiểm soát rất tốt 16.000 tỉ đồng nợ của mình.
 
Báo cáo tại Đại hội cổ đông thường niên năm 2013 của HAG cho thấy, vay và nợ dài hạn của HAG tính đến 31/12/2012 là 16.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, theo ông Đoàn Nguyễn Đức - Chủ tịch Hội đồng Quản trị và ông Vũ Hữu Điền – Thành viên Hội đồng Quản trị, Giám đốc đầu tư của DC cho biết, từ năm 2010 đến nay, bình quân tiền mặt sẵn có trong kỳ luôn hơn 2.500 tỉ đồng từ năm 2010 để dự phòng thanh khoản.

 

Ngoài ra, hơn 1.500 tỉ đồng nợ ngân hàng Credit Suisse là trái phiếu, sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu theo tờ trình trình đại hội đồng cổ đông trong kỳ họp này. Đồng thời, khoảng 4.230 tỉ đồng trái phiếu chuyển đổi/hoán đổi, chứng quyền, sau khi chuyển đổi sang cổ phiếu, nợ sẽ giảm và vốn chủ sở hữu sẽ tăng.

 

Theo “bầu” Đức thì nếu loại “xử lý” 3 yếu tố trên thì nợ thuần của HAG chỉ còn khoảng hơn 7.500 tỉ đồng. Trong khí đo, tổng tài sản trên 30.000 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu HAG trong tháng này cũng đã tăng lên gần 12.000 tỉ đồng. Từ đó, “bầu” Đức khẳng định: HAG không có rủi ro nợ vay ngân hàng. HAG có thể kiểm soát rất tốt 16.000 tỉ đồng nợ của mình, đó là chưa kể tài sản của HAG trên thực tế có giá cao hơn giá trị sổ sách rất nhiều.

 

“Trong lịch sử phát triển 20 năm của mình, HAG chưa có nợ quá hạn với ngân hàng, chưa có nợ xấu. Vì vậy, cổ đông, nhà đầu tư hãy tin tưởng “chúng tôi”. Chúng tôi biết làm gì trong giai đoạn khó khăn nhất, biết kiểm soát công ty, biết lái con thuyền đi trong thời kỳ có bão nhiều nhất. Cổ đông đừng lo lắng. Lo lắng là lo thời những năm 2008 – 2009 khi HAG bị chao đảo, sắp đi, nhưng bây giờ HAG đã tái cơ cấu, và kiểm soát tốt tình hình” – “bầu” Đức nhấn mạnh.

 

Trả lời những băn khoăn về rủi ro đầu tư ở Myanma, “bầu” Đức nói: Rủi ro chính trị bất kỳ quốc gia nào cũng có, không riêng gì Myanmar. Chúng tôi đánh giá Myanamar là thị trường mới, mở cửa rất nhanh, có nền tảng trình độ tốt, kỳ vọng vào lãnh đạo của Myanmar biết làm gì để Myanmar có thể thay đổi và phát triển. Bằng chứng thực tế Myanmar đã mở cửa và thực hiện một loạt cam kết, vì vậy không chỉ HAG, cả Anh, Mỹ, EU đầu tư vàoMyanmar. Vì vậy nếu có rủi ro là rủi ro chung.

 

“Các thị trường HAG đầu tư đều rất thành công. Từ năm 2007 HAG bẻ hướng đầu tư sang nước ngoài, nếu HAG không làm vậy, HAG cũng sẽ thoi thóp như nhiều doanh nghiệp bất động sản khác. Đầu tư vào Myanmar là một điều may mắn bất ngờ của HAG, nếu không có dự án này HAG chỉ còn trông chờ vào cao su, mía đường, vì bất động sản tại TP.HCM đóng băng” - “bầu” Đức chia sẻ.

 

Được biết, trong năm 2013, HAG đặt kế hoạch tổng doanh thu 3.620 tỉ đồng, tronh đó mía đường góp 18%, xây dựng 15%, bất động sản 14%, cao su 14%, thuỷ điện 12%, khoáng sản 10% tổng doanh thu. Lý giải cho mục tiêu “khiêm tốn” so với năm 2012 này, HAG cho biết: Doanh thu năm 2013 giảm so với thực hiện năm 2012 do doanh thu ngành Bất động sản từ 2.829 tỉ đồng xuống còn 518 tỉ đồng. Và để bù đắp cho sự sụt giảm này, ngành mía đường đóng góp 638 tỉ đồng, cao su tăng thêm 466 tỉ đồng, thuỷ điện tăng thêm 305 tỉ đồng....

 

Về lợi nhuận, HAG đặt kế hoạch 1.107 tỉ đồng, tăng 111% so với thực hiện năm 2012. Đóng góp lợi nhuận năm 2013 chủ yếu từ ngành cao su, mía đường và dự án bất động sản Myanmar.

 

Theo Vũ Lâm

Petrotimes